Cầu Than Thở
Chương 9: Căn nhà mới
Năm 1997, Hồng Kông trở về với tổ quốc và nhà họ Chu cũng chuyển nhà. Thời đó nhà ở vẫn còn được phân theo đơn vị, Chu Thiên Thành chẳng biết chạy vọt từ đâu mà "phân" được một căn hộ trong khu tập thể của Cục Thẩm kế. Dù những người sống ở đây phần lớn đều có chút lai lịch nhưng phong cách chung vẫn khá khiêm nhường. Mỗi tòa nhà cao tám tầng, giữa các tòa ngăn cách bởi một dãy nhà để xe đạp. Khoảng sân giữa tiểu khu là một mảnh đất nền gập ghềnh không bằng phẳng, bốn phía trồng liễu, ở giữa lắp mấy chiếc máy đi bộ và xà đơn xà kép, mỗi tòa đều có bảo vệ trực cửa riêng biệt.
Ấn tượng sâu sắc nhất của Chu Nguyệt chính là lần đầu tiên cô cảm thấy ánh nắng phương bắc thực ra kéo dài đến vậy. Ở căn nhà cũ chỉ khi mặt trời đứng bóng nhà mới sáng sủa, đến bốn giờ chiều là phải bật đèn, nếu không trong phòng sẽ tối om. Trước kia cô bé ngồi trên sofa chỉ cần quay đầu là thấy hết toàn cảnh phòng ngủ của ba mẹ, đi vài bước là đến bếp, không gian chật chội đến mức nếu không bật máy hút mùi thì cả nhà sẽ nồng nặc mùi khói dầu.
Đới Yến vốn không mặn mà với việc nội trợ. Sàn nhà lát gạch caro đen trắng, gạch trắng thì bám dầu mỡ đến vàng khè, gạch đen thì vương bụi bặm đến bạc phếch.
Trên sofa lúc nào cũng chất đống quần áo bẩn hoặc quần áo sạch vừa thu vào, lẫn lộn vào nhau không phân biệt nổi khiến không gian về mặt thị giác càng thêm chật chội và hỗn loạn.
Hành động của Đới Yến mà Chu Nguyệt nhớ rõ nhất là hay giơ cao quần áo lên dưới ánh sáng lờ mờ, nhìn không ra thì ngửi, có mùi bột giặt là đồ sạch còn không mùi là đồ bẩn. Phân loại xong, bà sẽ nghiêng đầu cười đắc thắng, vừa nghêu ngao hát: “Người hỏi ~ lòng em ~ yêu anh ~ đậm sâu ~ thế nào ~, tình em ~ trao anh ~ mấy phần ~”, vừa dũng cảm vắt đống đồ bẩn lên vai, bước cái dáng người thân không nhận đi vào phòng tắm. Rồi bà như một vận động viên vật chuyên nghiệp, tung một cú quật vai điệu nghệ rồi hô một tiếng “Hắc!” sau đó ném đống đồ bẩn vào máy giặt.
Đó là dáng vẻ của Đới Yến khi chỉ có một mình với Chu Nguyệt ở nhà, Chu Nguyệt cảm thấy lúc ấy mẹ mình còn "đàn ông" hơn cả Chu Thiên Thành.
Nhà mới là kiểu căn hộ thông hai mặt nam bắc, rộng khoảng 120 mét vuông. Chiếc máy giặt mới đặt ngoài ban công. Ban công rất lớn, bước vào là nắng ch.ói đến mức không mở nổi mắt, phải lấy tay che lại một lúc lâu mới quen được.
Nhưng cách phân bổ không gian vẫn giống như cũ, kiểu ba phòng ngủ hai phòng khách. Chu Thiên Thành cho phá tường thông hai phòng khách làm một tạo thành một sảnh lớn.
Chu Nguyệt đứng ở phòng khách gọi Khang Tinh Tinh sẽ nghe tiếng vang vọng: “Tinh Tinh... Tinh Tinh... Tinh Tinh...” vọng lại hồi lâu. Khang Tinh Tinh cũng phải mất một lúc mới lù lù xuất hiện từ góc nào đó, cái vóc dáng to con của cậu đặt trong căn nhà này vẫn thấy nhỏ bé lạ thường.
Ý của Đới Yến là cho Khang Tinh Tinh một phòng riêng vì vài năm nữa lũ trẻ lớn rồi, anh em cứ ngủ chung mãi không tiện. Nhưng Chu Thiên Thành hiển nhiên không nghe theo. Căn phòng gần bếp nhất bị ông ta cải tạo thành phòng chơi bài. Sở dĩ gần bếp là để tiện cho Đới Yến hầu hạ ông ta và đám chiến hữu bất cứ lúc nào, bưng trà rót nước là chuyện thường tình, khi nào cao hứng ông ta còn bắt Đới Yến nấu mì cho cả hội ăn đêm.
Trong phòng chơi bài có một chiếc bàn mạt chược và một chiếc tủ đứng lớn chiếm trọn một bức tường dùng để trưng bày những món đồ lạ lùng mà Chu Thiên Thành sưu tầm được từ khắp nơi.
Ông ta đặc biệt thích đi Nga. Những con b.úp bê Nga Matryoshka, trứng phục sinh Faberge và hổ phách sáp ong bày đầy một tủ. Đới Yến khẳng định chắc nịch rằng ông ta đi Nga là để tán gái. Mỗi lần Đới yến nói vậy ông ta chẳng buồn quay đầu, chỉ ngồi trên sofa cười khẩy, giọng kéo dài đầy mỉa mai:
“Đúng đấy! Thì sao nào? Gái người Slav người ta đẹp thật mà! Đâu có giống cô, da mặt xệ xuống tận cổ, chân thì thô đến mức đi bộ còn cọ vào háng!”
Đới Yến cũng chẳng thèm giận, xách giẻ lau xong cái tivi là vào buồng trong lau bàn ghế. Chu Thiên Thành chẳng buồn chấp bà, cứ thế hì hục mở từng lớp b.úp bê Nga cho con gái đoán xem bên dưới còn mấy con nữa.
Ông ta hơn Đới Yến 4 tuổi, năm đó 33, chưa gọi là già nhưng chân tóc đen nhánh đã bắt đầu phai màu. Nhìn kỹ thì đôi mắt đào hoa đa tình của ông ta đã xuất hiện những nếp nhăn li ti ở đuôi mắt, nhất là khi cười.
Rất nhiều năm sau, vào năm 2010, Chu Nguyệt thường nghĩ nếu ba mình còn sống thì hẳn ông ta sẽ rất thích chơi Pop Mart.
Nhưng những năm tháng đó thực ra lại là quãng thời gian bình lặng nhất của nhà họ Chu. Chu Thiên Thành và Đới Yến vẫn không mặn nồng với nhau, thực tế là họ chưa bao giờ mặn nồng nhưng cũng ít khi cãi vã. Nói đúng hơn, họ chẳng mấy khi trò chuyện.
Chu Thiên Thành vẫn đi đây đi đó suốt. Có người đàn bà khác không, có mấy người, là tình sương khói hay hồng nhan tri kỷ thì chẳng ai rõ. Một tuần ông ta sẽ gọi điện về một đến hai lần, thường là Chu Nguyệt nghe máy. Cô rất thích nghe điện thoại, có đôi khi Đới Yến thấy số điện thoại hiện lên cũng sẽ gọi vọng từ xa:
“Điện thoại của ba hai đứa kìa.”
Trong điện thoại, Chu Thiên Thành sẽ hỏi chuyện trong nhà thế nào, Tinh Tinh thế nào, Nguyệt Nguyệt thế nào, duy chỉ không hỏi Đới Yến thế nào.
Đới Yến cũng chẳng rõ là có vui khi dọn về nhà mới hay không, bà cũng không còn quản chuyện đàn bà của Chu Thiên Thành nữa.
Bà không ở nhà nhiều, lúc nào cũng diện đồ hoa hòe hoa sói ra ngoài khoe sắc. Chu Thiên Thành về nhà bà càng tiêu sái hơn, mặc kệ hai đứa trẻ, ngồi vào bàn mạt chược là chơi cả ngày, tối đến lại cùng hội chị em đi nhảy đầm hoặc xem phim.
Đi nhảy thì bà không mặc váy mà thay bằng chiếc áo hai dây màu xanh nhạt hoặc hồng nhạt, phối với quần jeans ôm sát làm nổi bật những đường cong quyến rũ. Có khi bà cứ thế uốn éo đi qua bàn bài, đặt mấy đĩa mồi cho mấy ông anh rồi chào Chu Thiên Thành một tiếng:
“Còn việc gì không? Không thì tôi đi chơi đây.”
Chu Thiên Thành ngậm t.h.u.ố.c ngẩng đầu, quét mắt nhìn bà một lượt từ chân lên đầu rồi lại cúi xuống nhìn bài. Phải mất ba đến năm phút xem bài xong, ông ta mới ậm ừ một tiếng, thế là bà quay đầu đi thẳng.
Dần dần, khoảng cuối năm 1998, đám chiến hữu của Chu Thiên Thành không còn đến thường xuyên nữa. Đây là cảm nhận rõ rệt nhất của Chu Nguyệt vì nhà cửa trở nên yên tĩnh hẳn, không còn mùi t.h.u.ố.c lá, mùi rượu nồng nặc hay mùi mồ hôi khó chịu. Thay vào đó là những vị khách mới, thường là các ông và các bác lớn tuổi.
Chu Nguyệt có thể cảm nhận được sự nghiêm túc và thận trọng của Chu Thiên Thành. Ông ta ngồi thẳng lưng trên sofa, hai tay đặt trên đầu gối, mỗi khi nghe khách nói đều gật đầu thật mạnh, không còn vẻ bất cần đời như trước và còn giới thiệu Đới Yến là: “Vợ tôi.”
“Tinh Tinh, 'vợ' là gì hả anh?”
Chu Nguyệt chưa bao giờ nghe từ trang trọng ấy, đêm đó cô liền hỏi Khang Tinh Tinh. Bây giờ có bất cứ thắc mắc gì thì người đầu tiên cô hỏi không phải ba mẹ hay thầy cô, mà là Khang Tinh Tinh trông có vẻ chẳng mấy lanh lợi.
“Là bà xã thôi.”
Khang Tinh Tinh trả lời luôn ngắn gọn súc tích.
“Thế sao lại gọi là 'vợ'?”
Chu Nguyệt thắc mắc.
“Vì có yêu nhau mới thành vợ chồng được chứ.”
Khang Tinh Tinh nằm trên giường, nghiêm túc nhìn cô. Dưới ánh đèn bàn vàng vọt, con ngươi của cậu có màu nâu, lông mi ngày càng dài đen nhánh và cong v.út như chiếc quạt, cậu nhìn lướt qua sống mũi rồi đến làn môi cô.
Gương mặt đen nhẻm của cậu vẫn tròn vo, cánh tay chắc nịch như khúc củ sen. Chu Nguyệt nhìn cậu, thấy thế nào cũng thấy đáng yêu bèn ghé sát lại hôn một cái "chụt" lên mặt cậu rồi nói:
“Gọi chị đi!”
Cậu sững sờ hồi lâu, rồi cười ngây ngô:
“Em gái.”
Chu Nguyệt lại hôn tiếp, hôn đến mức cậu cười nắc nẻ mà vẫn gọi “Em gái”. Hôn thêm mấy cái vẫn là “Em gái”, Chu Nguyệt ghét bỏ nhổ nước bọt một cái, quệt miệng rồi chép chép môi
: “Anh có vị socola này!”
Khang Tinh Tinh gối đầu lên tay rồi cười lộ lúm đồng tiền, ghé lại hôn lên má cô một cái:
“Nguyệt Nguyệt có vị vani.”
Hai đứa trẻ che miệng cười rúc rích, đôi mắt cong thành hình trăng lưỡi liềm. Đứa hôn một cái, đứa trả một cái, lông mi và hơi thở như những con sâu ngứa chạm nhẹ qua má nhau khiến tiếng cười càng lúc càng lớn, cho đến khi kinh động tới Đới Yến. Bà đứng ngoài cửa mắng cho một trận hai đứa mới chịu im lặng rồi cùng đưa ngón trỏ lên môi làm ký hiệu:
“Suỵt!”
Năm 1999, Chu Nguyệt chín tuổi, Khang Tinh Tinh mười tuổi đang học lớp bốn. Bài vở không quá nặng nhưng Chu Nguyệt bắt đầu thấy đuối môn Toán, thành tích từ hạng hai, hạng ba trong lớp tụt xuống khoảng hạng năm đến hạng mười. Nhưng Khang Tinh Tinh vẫn vững vàng trong tốp ba.
Cậu có tính phục tùng rất tốt nhưng không phải kiểu trẻ con lấy lòng thầy cô hay sợ bị mắng, mà cậu chỉ đơn giản thấy những việc đó rất dễ thực hiện. Ví dụ như đến lớp sớm hoàn thành một trang toán nhẩm hay lúc trực nhật thì quét nhà, lau bảng, tiện tay lau luôn kính cửa lớp cũng chẳng tốn sức là bao.
Cũng có khi cậu thấy những yêu cầu của thầy cô là cần thiết, ví dụ như tập bài thể d.ụ.c mắt là để bảo vệ thị lực, chạy bộ là để rèn luyện thân thể nên chẳng cần ai ép buộc thì cậu cũng hoàn thành 100%.
Cậu làm mọi việc một cách rất thản nhiên không giống những đứa trẻ khác thích nghịch ngợm hay hay quên trước quên sau. Cậu không bao giờ quên việc phải làm, chỉ là so với việc nói chuyện thì cậu thích im lặng hơn. Sự phục tùng giúp cậu tránh được tối đa những va chạm không đáng có với người khác, để cậu có thể tập trung làm những việc mình thực sự muốn mà không gặp trở ngại.
Nhưng khi cậu thấy cần thiết, ví dụ như khi thầy cô định tách hai anh em ra vì cậu quá cao còn Chu Nguyệt quá lùn thì cậu liền đứng bật dậy, bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt giáo viên mà nói:
“Thưa cô, em muốn ngồi cùng em gái. Em ấy đi học hay làm việc riêng, thành tích đang sút kém nên em cần đốc thúc em ấy học tập. Đây là nhiệm vụ ba em giao cho em.”
Ở bất cứ thời đại nào, sự ưu ái của nhà trường dành cho học sinh giỏi thường thể hiện ở việc: Những chuyện nhỏ nhặt có thể châm chước.
Thế là Chu Nguyệt bé nhỏ cùng Khang Tinh Tinh to lớn cùng ngồi ở dãy bàn cuối lớp. Cô thì chẳng sao cả, càng tốt vì tránh được sự giám sát của giáo viên để mặc sức vẽ Thủy thủ Mặt Trăng lên góc mỗi trang sách giáo khoa.
Cô thích nhất tiết Âm nhạc. Giọng hát của cô rất hay, tiếng oanh vàng lảnh lót kết hợp với ngoại hình đáng yêu khiến cô luôn được đứng ở vị trí chính giữa hàng đầu trong các buổi văn nghệ của trường.
Cô có rất nhiều bạn tốt, những đứa trẻ xinh đẹp và cởi mở luôn được nhiều người yêu mến. Trong các buổi diễn, đám con gái nhỏ líu lo vây quanh dưới đài hò reo cổ vũ, ngước nhìn cô cười rạng rỡ. Còn Khang Tinh Tinh chỉ đứng ở hàng cuối cùng của đại lễ đường. Trên sân khấu ánh đèn lung linh, những chùm đèn màu nhấp nháy theo nhịp điệu, Chu Nguyệt đứng trên cao nhìn xuống chỉ thấy một đám bóng đen mờ mịt.
“Sao anh không nhìn em hả!”
Kết thúc buổi diễn, cô cùng Khang Tinh Tinh đi bộ về nhà. Đi qua cầu Than Thở, cô nhìn bóng mình dưới nước, bực bội quệt mạnh lên mặt làm lớp trang điểm lem nhem thành một đống như chú hề. Dù vậy vẫn không hết giận, cô vừa đi vừa dậm chân gào thét sau lưng Khang Tinh Tinh.
“Anh có nhìn mà.” Khang Tinh Tinh thường xuyên cảm thấy bất lực trước tính khí dữ dằn của Chu Nguyệt. Cậu ôm chiếc váy lụa và đôi giày múa thay ra của cô, lầm lũi đi phía trước, “Ở hàng cuối anh vẫn nhìn thấy. Mắt anh tinh lắm, nhưng nếu đứng hàng đầu sẽ chắn tầm mắt của các bạn khác mất.”
“Em chẳng cần họ nhìn!”
Chu Nguyệt giận dữ ném bông hoa hồng đỏ trong tay xuống đất. Đó là phần thưởng hiệu trưởng tặng cô, bông hoa to nhất, cô ném xuống rồi dùng chân giẫm nát.
Cô không nói rõ được mà Khang Tinh Tinh cũng không diễn đạt được. Cậu đơn giản là không thích đứng cùng đám nhóc tì ồn ào kia để nhìn cô. Đám ngốc đó chỉ biết nhìn đến ngây người, như thể đang đứng sau lớp kính chống đạn để chiêm ngưỡng một món bảo vật vô giá. Cậu sẵn lòng nhường chỗ cho chúng chiêm ngưỡng, vì bảo vật đó vốn dĩ không bao giờ thuộc về chúng.
Chu Nguyệt là đứa trẻ khá thù dai, sau chuyện đó một thời gian dài cô không thèm để ý đến Khang Tinh Tinh. Cô mời bạn bè đến sân khu tập thể chơi nhảy dây, chơi ô ăn quan, đá cầu, chơi từ trưa đến tận sẩm tối, chơi đến mức bụi mù mịt, vui đến khản cả giọng.
Khang Tinh Tinh chỉ lẳng lặng dọn một chiếc ghế nhỏ ngồi từ xa. Làn da đen bóng nhễ nhại mồ hôi dưới nắng, nắng ch.ói đến mức mắt cậu híp lại thành một khe nhỏ, mồ hôi đọng đầy trên trán và ch.óp mũi nhưng cậu vẫn chăm chú cúi đầu đọc sách. Bóng chiều tà kéo bóng cậu dài lê thê, chỉ khi cậu ngẩng đầu nhìn về phía Chu Nguyệt, cái bóng đen bất động ấy mới khẽ khàng lay động.
“Nguyệt Nguyệt uống nước đi.”
Cậu đặt sách xuống, cầm lấy bình nước nãy giờ vẫn giấu dưới bóng cây, sờ thấy nước vẫn còn mát.
Cậu gọi cô rất nhiều lần cô mới quay lại lườm cậu một cái cháy mặt:
“Em không khát!”
Để chọc tức cậu, khổ thế nào cô cũng chịu được.
Lúc đó cô phẫn nộ như thế, uất ức như thế, cứ ngỡ đây chỉ là một buổi chiều bình thường không đáng nhắc tới trong cuộc đời mình, bình thường đến mức phát chán. Cô đâu biết rằng buổi chiều tĩnh lặng ấy, hình ảnh cậu ngồi trên ghế nhỏ, gương mặt đen nhẻm bóng loáng vì nắng bưng chiếc bình nước in hình Mickey và Minnie, ngồi dưới rặng liễu rủ nhìn cô mỉm cười... chính là những ngày tháng cô vĩnh viễn không thể quay về. Đó là bảo vật cô từng tùy ý vứt bỏ nhưng sau này chẳng thể tìm lại, là toàn bộ phần đời vẹn tròn của cô. Mỗi khi nhớ lại khiến lòng cô lại chua xót đến đắng ngắt, nhưng trong vết thương rỉ m.á.u ấy lại chứa đựng những nỗi đau ngọt ngào.
Hết chương 7.
Bình luận (0)
Đăng nhập để bình luận