Tháng sáu, cuối hạ.
Đêm về mộng vắng, Tùy Đường lại một lần nữa mồ hôi lấm tấm, hoảng hốt ngồi bật dậy trên giường.
Vẫn là giấc mộng ấy — Thái hậu trong mơ đã qua đời.
Thất khiếu rỉ máu, người chết mà mắt không nhắm.
Tùy Đường cúi đầu điều hòa hơi thở một lúc, vén rèm nhìn đồng hồ nước bên cửa dưới ánh đèn tường leo lét. Chưa đến giờ Sửu, nàng liền nằm xuống lại, ép mình mau chóng chìm vào giấc ngủ.
Ngày tiễn Lận Tắc, nàng đã trông thấy bảng vàng. Trong lòng mang hai mối lo, ban ngày người đông còn đỡ, đêm đến tĩnh mịch thì suy nghĩ dồn dập, mất ngủ, mộng nhiều.
Liên tiếp bảy tám ngày như vậy, tinh thần của nàng có phần uể oải, hôm nay đầu lại căng đau. Bởi thế nàng chỉ mong sao cho ngủ được. Nhưng càng cố thì càng không ngủ nổi, mắt nhắm rồi mở, mở rồi nhắm, cuối cùng lại mở ra, chẳng còn chút buồn ngủ nào, trái lại đầu óc còn tỉnh táo hơn.
Tùy Đường nhìn l*n đ*nh màn một lúc, rồi khoác áo ngồi dậy. Nàng không kinh động đến thị nữ, chỉ mở rèm, bưng chiếc đèn lưu ly ở đầu giường vào trong màn, đặt lên án nhỏ phía đối diện, lại lấy một cuốn y thư từ dưới án ra đọc.
Từ ngày trở về Ký Châu, ngoài việc chăm sóc Phái Nhi, phần lớn thời gian của nàng đều dành cho y thư, phân biệt thảo dược, mong tìm ra cách chữa trị bệnh cho Lận Tắc.
Theo lời hắn, đó là cái giá phải trả từ tiền kiếp. Nhưng Tùy Đường vẫn tin rằng việc đời còn có thể xoay chuyển. Bệnh trạng của hắn có biểu hiện rất rõ: không chịu được lạnh, hễ nhiễm lạnh thì tim đau dữ dội, tức ngực, khó thở. Trong ngũ tạng, tim, tỳ, gan đều đã tổn thương. Loại bệnh này thường phát tác ở tuổi trung niên, do tạng phủ suy thoái theo năm tháng. Suy theo lẽ ấy, nếu chuyên tâm nghiên cứu các phương pháp kháng lão, có lẽ sẽ có hiệu quả.
Y thự cũng phân tích như vậy, nên chia việc mà làm. Họ vẫn theo chính đạo dược lý, dùng thuốc bổ cho Lận Tắc. Còn Tùy Đường thì lật tìm các phương thuốc dị truyền, dò thảo dược, rồi đưa cho y thự thẩm định.
Gần đây nàng mất ngủ, bèn đặt một án nhỏ trên giường, bút mực đầy đủ, như một thư án giản tiện để có thể đọc sách bất cứ lúc nào.
Một ngọn đèn cô độc, ánh sáng vàng nhạt. Một tay nàng xoa huyệt thái dương, tay kia đặt lên thẻ tre, lần từng chữ mà đọc, thỉnh thoảng lại lật quyển. Có lúc nàng tiếc mình đọc sách quá muộn, gặp chữ không quen còn phải ghi lại tra cứu, làm chậm tiến độ, chỉ hận không thể liếc mắt mười dòng, nghiền chữ nuốt nghĩa. Rồi lại tự an ủi: chí ít nàng còn biết chữ, có thể san sẻ áp lực cho y thự, không đến mức chỉ ngồi chờ thời gian trôi đi, nhìn năm tháng trên người hắn tăng tốc mà bản thân thì bất lực. Nghĩ thêm một bước, việc nàng hôm nay được đọc sách xem y thư cũng là do chính tay hắn tạo điều kiện — ấy cũng là nhân quả.
Bàn tay xoa thái dương dời sang vai cổ, một tay lật thẻ tre tiếp tục đọc. Nàng đọc rất chậm, rất tĩnh.
Không biết trời sáng từ khi nào. Chỉ đến lúc Lan Tâm vào điện vén rèm, trông thấy dáng vẻ của nàng đang đọc sách mới sững người một thoáng.
"Điện hạ tỉnh từ khi nào thế này? Chẳng lẽ cả đêm đều đọc sao? Người xem quầng mắt kia kìa!" Lan Tâm lấy sách khỏi tay nàng, không khỏi bực bội nói, "Có gấp mấy thì người cũng phải giữ gìn thân thể. Những việc này đã có y thự, người giúp được đến đâu là tốt lắm rồi, sao có thể quên ăn quên ngủ như vậy!"
Thường ngày Tùy Đường dậy muộn, Lan Tâm vào hầu đều rất khẽ. Hôm nay cũng vậy, chỉ là một tràng trách móc ấy khiến giọng nàng ấy cao lên lúc nào không hay.
Tùy Đường không chen lời được, đợi nàng ấy nói xong mới kêu oan: "Cô cô oan cho ta quá! Ta đâu phải cố ý không giữ gìn thân thể. Chỉ là đêm không ngủ được, mới tìm sách giết thời gian, nào ngờ chớp mắt trời đã sáng thế này!"
Nàng nheo mắt nhìn ra ngoài, ánh nắng rực rỡ cùng tiếng ve trên cây đã râm ran khắp viện.
"Giờ Thìn bốn khắc rồi, chăm đọc đến mấy chẳng lẽ bụng không đói sao?" Lan Tâm trách yêu, khoác lại áo trượt xuống trên giường cho nàng, "Điện hạ dậy đi, nô tỳ hầu người thay y phục."
Tùy Đường vẫn ngồi yên, chỉ ngẩng gương mặt tái nhợt, đáng thương nhìn nàng ấy, tay ấn lên đùi.
"Chân tê rồi phải không?" Lan Tâm lập tức hiểu ra, ngồi sát lại xoa bóp cho nàng.
"Điện hạ bây giờ còn trẻ, thức đêm một hai lần chưa thấy gì. Đợi lớn tuổi rồi, đâu chỉ tê chân, lưng cứng eo đau, vai cổ đều khó chịu. Dưỡng sinh đâu phải đợi thân thể hỏng rồi mới làm, mà phải chăm từng ngày..."
Từ Lạc Dương đến Ký Châu, Lan Tâm hầu hạ Tùy Đường đã bảy tám năm. Nàng hơn Tùy Đường mười mấy tuổi, ngày tháng kề cận, tình cảm càng sâu. Lại không vướng bận gia đình, nên một lòng đặt cả vào thiếu chủ. Nhất là sau khi thân phận bị Lận Tắc biết mà vẫn không bị làm khó, nàng càng dốc lòng tận lực.
Tùy Đường đối với nàng ấy cũng coi như trưởng bối thân cận. Lúc này nghe nàng ấy lải nhải, trong mắt liền dâng lên vẻ mến mộ như con trẻ.
"Cô cô trước kia cũng hầu hạ a mẫu như vậy sao?"
Lan Tâm nghe nhắc đến Thái hậu, tay đang xoa chân chợt khựng lại: "Nô tỳ kém Thái hậu bốn tuổi. Những việc cận thân đòi hỏi kỹ xảo như thế, khi ấy chưa đến lượt nô tỳ. Nô tỳ làm việc dưới tay Từ cô cô, vốn định tiếp nối bà."
"Cô cô kế nhiệm chưởng sự cũng là thị nữ nhất nhì trong nội điện rồi." Tùy Đường khẽ nói, "Cô cô kể cho ta nghe chuyện trước kia của a mẫu đi."
Lan Tâm nhìn thần sắc nàng, một lúc lâu mới chậm rãi cất lời.
"Thái hậu dung mạo và tài hoa đều xuất chúng, vốn là người nổi bật nhất trong hàng quý nữ cao môn Trường An. Tấm lòng lương thiện, trước khi nhập cung thường dựng lều phát cháo. Thuở nhỏ thích cưỡi ngựa săn bắn, yêu hoa lá chim muông, lại đặc biệt hay cười. Người Trường An nói bà cười một cái nghiêng thành, cũng chẳng phải quá lời. Vào cung rồi, bà giữ lễ nhiều hơn, không cưỡi bắn, không bố thí, một lòng phụng sự quân vương — mà cũng không còn cười nữa. Lần đầu tiên nô tỳ thấy bà cười vui vẻ... là khi người..." Lan Tâm chìm trong hồi ức, nói đến đây bỗng dừng lại, cúi đầu thấp hơn, tay xoa bóp cũng mạnh thêm.
"Ta? Khi nào của ta?" Tùy Đường đẩy nhẹ cánh tay nàng ấy, "Nói đi."
"Trong tiệc mừng tròn một tuổi của Điện hạ. Người cười khanh khách với bà, bà liền cười theo. Đó là lần đầu tiên bà cười sau khi nhập cung. Về sau bà cười nhiều hơn, lúc cười giống hệt khi còn ở phủ."
"Vậy... sau khi ta đi, bà còn cười không?" Lời vừa ra khỏi miệng, Tùy Đường đã thấy không nên hỏi.
Rốt cuộc nàng muốn nghe là có, hay là không?
Chỉ nghe Lan Tâm đáp: "Sau khi Điện hạ rời đi, Thái hậu liền lâm bệnh. Một cơn bệnh kéo dài hơn nửa năm, tiên đế cũng dần lạnh nhạt. Sau đó phu nhân của Thái úy vào cung khuyên nhủ, bà mới nguôi ngoai. Rồi... rồi dốc lòng chăm sóc Thái tử Điện hạ, khi ấy cũng cười, mà cười rất vui."
Trong gian ngọa thất lặng yên giây lát. Lan Tâm đổi sang xoa bóp bên chân kia, ngước mắt mỉm cười.
Tùy Đường cũng khẽ cong môi, một hồi lâu mới thì thầm: "Ta... đã chẳng còn nhớ rõ dung mạo của người."
Gương mặt trong mộng sớm đã mờ nhạt, lệ hòa huyết chảy.
Thời gian lặng lẽ trôi qua mấy ngày.
Ngày ấy, sau bữa sớm, Tư Thiện còn khuyên Tùy Đường dùng thêm chút nữa, lại hỏi nàng có muốn đổi món cho hợp khẩu vị không. Trước mắt Tùy Đường bỗng tối sầm, nàng khẽ nói: "Có lẽ vì trời nóng, nên không thấy đói..."
Lời còn chưa dứt, người đã ngã quỵ.
Sau đó được Đổng Chân chẩn trị, may mắn không có gì đáng ngại, chỉ nói là do mất ngủ lâu ngày khiến tâm thần hao tổn, thân thể mệt mỏi, lại ảnh hưởng đến tỳ vị.
Lan Tâm thở dài: "Từ khi Điện hạ hay tin về bảng vàng, trong lòng vẫn chẳng yên. Việc này, Điện hạ nên thả lỏng tâm tư. Nô tỳ đang định thưa cùng người, hay để nô tỳ hồi cung một chuyến, cũng coi như báo đáp ân che chở năm xưa của Thái hậu."
Tùy Đường tựa lưng trên sập, lắc đầu nói: "Ngươi có về cũng vô ích. Tính khí bệ hạ thế nào, e rằng còn bức ngươi phải khai. Khi ấy biết nói gì đây? Chọc giận người, lại liên lụy đến ngươi. Thế thì mẫu hậu dẫu vô sự cũng hóa có chuyện, nếu vốn đã có bệnh, chỉ càng thêm trầm trọng."
Nàng khẽ vỗ mu bàn tay Lan Tâm: "Chỉ là dạo này ta quá mệt, tịnh dưỡng ít ngày là ổn."
*
Hết Phục sang thu, đã tới tháng Chín. Tùy Đường điều dưỡng khá tốt, dần dần không còn mất ngủ, thân thể cũng phục hồi như trước.
Cuối thu trời cao khí trong, phong đỏ cúc vàng đua nở. Trong hậu viên phủ Thừa tướng có mấy đứa trẻ tụ lại chơi đùa, cười nói ồn ào. Ban đầu chỉ có hai con gái của Lận Hòa cùng Phái Nhi, sau Tùy Đường đề nghị, vì vợ chồng Mông Kiều đều chinh chiến bên ngoài, tuy trong phủ Châu mục đã có người trông nom con cái họ, nhưng đưa về bên tổ mẫu vẫn chu đáo hơn.
Vì thế nay năm đứa trẻ tụ một chỗ, náo nhiệt đến mức Dương thị cũng khó bề xoay xở.
Con trai trưởng của Lận Thử là đứa lớn nhất, đã tám tuổi, ra dáng huynh trưởng, dẫn dắt các em. Phái Nhi nhỏ nhất, còn hai tháng nữa mới tròn hai tuổi, song lanh lợi khác thường, cứ thích bám theo các huynh các tỷ. Trẻ con vốn thích chơi với kẻ lớn, chẳng ưa trẻ nhỏ. Nhưng Phái Nhi lại biết khóc, gương mặt tròn trịa trắng trẻo, đôi mắt đen láy long lanh ánh nước, chìa hai tay níu vạt áo các huynh các tỷ, lắc một cái là nước mắt rơi ngay. Đứa trẻ như vậy, nào có ai nỡ lòng đẩy nó ra.
Dương thị nhìn đám trẻ, cười không khép được miệng, hiếm khi thân cận Tùy Đường đến vậy: "Ta hỏi Tam lang rồi, nó nói chẳng phải bệnh nặng, chỉ là lao tâm quá độ. Đợi tháng Mười nó về, con cứ gửi Phái Nhi ở đây, vợ chồng tụ họp cho đàng hoàng, sinh thêm cho thằng bé một người bạn nữa."
"A mẫu nói phải," Lận Hòa ghé lại cười nói, "Nhìn Phái Nhi cứ như đúc cùng khuôn với tam ca. Tam tẩu nhất định phải sinh thêm một đứa giống tẩu, đừng để tam ca đắc ý!"
Tùy Đường cười cười gật đầu, ánh mắt dừng trên đứa trẻ.
Năm nay nó chưa đầy hai tuổi. Đợi nó lớn đến tám tuổi như huynh đệ mình, rồi mười lăm, hai mươi, đội mũ, cưới vợ, sinh con, lập công, dựng nghiệp... phụ thân nó không thể vắng mặt.
Đáng tiếc thay, y thư vô phương, lương y vô sách.
Lại một ngày qua đi, lại sắp hết một năm. Nàng lật nát kinh tịch vẫn chẳng tìm được nửa điểm hy vọng.
"Tam tẩu, tẩu sao thế?" Lận Hòa thấy vành mắt Tùy Đường dần đỏ lên.
"Ta..." Tùy Đường hít sâu một hơi, nhướng mày cười, "Ta nhớ huynh trưởng của muội."
Lận Hòa và Dương thị nhìn nhau, cùng bật cười.
Tùy Đường dụi mắt, nghiêng người nói: "A mẫu, hai hôm trước con nhận được thư. Tam lang nói chiến sự dồn dập, tháng Mười năm nay không về. Hôm nay con tới là để thưa với người, hai ngày nữa con sẽ đưa Phái Nhi lên đường, đến Quán Lưu Hồ."
Trong thư, Lận Tắc vẫn nói sẽ về, còn dọa kiểm tra bài vở và tranh vẽ của nàng, viết dài kín một trang. Chỉ là để an lòng nàng, đùa cho nàng vui. Nhưng qua nét chữ, nàng vẫn nhận ra sự suy yếu và vô lực của hắn.
Mới tháng Chín, hiển nhiên bệnh lại tái phát.
"Người này thật là," Dương thị thở dài, "Suốt ngày không ở nhà. Năm ngoái lỡ mất tiệc tròn năm của con, năm nay ta còn định làm lễ tròn hai tuổi cho đàng hoàng, vậy mà lại chẳng về."
Rồi bà nói tiếp: "Hay con để Phái Nhi lại đây, trẻ nhỏ thế này, đường xa xóc nảy, thân thể khó chịu nổi."
"Nó chưa từng rời xa con, hơn nữa cũng nhớ phụ thân."
Dương thị gật đầu: "Vậy dọc đường cẩn thận, tới nơi nhớ viết thư về."
Tùy Đường vâng dạ, thấy trời đã xế, gọi Phái Nhi về viện.
Dương thị nhìn theo bóng lưng xa dần, rồi khẽ lắc đầu.
"Huynh tẩu không ở nhà, chẳng phải vẫn còn con bầu bạn với mẫu thân sao?" Lận Hòa an ủi.
"Ta đâu có ý đó," Dương thị có phần bất mãn, "A huynh con thì thôi, nó quen tự quyết, ta chẳng quản được. Nhưng con xem nàng dâu này, dù là công chúa, chẳng lẽ không phải con dâu? Hành sự lúc nào cũng chỉ báo một tiếng, chưa từng bàn bạc."
"Tẩu ấy đi thăm a huynh, còn cần thương lượng với người làm gì? Hay mẫu thân định lập quy củ, bắt tẩu hầu hạ người sao!"
"Ta..."
*
Tùy Đường đi Quán Lưu Hồ, chẳng những không bàn với Dương thị, ngay cả Lận Tắc cũng không hay biết, càng không báo trước.
Chiều tối tháng Chín đến Cam Viên, nàng bảo Lan Tâm đưa Phái Nhi đã ngủ say đi nghỉ trước, còn mình thì tới đại trướng Quán Lưu Hồ tìm hắn.
Đến quá đột ngột, vừa khéo gặp Mông Lãng đang định vào trướng bẩm chuyện. Mông Lãng nhận ra người liền hành lễ, Tùy Đường mỉm cười, hai người cùng vào trong.
Trong trướng sâu rộng, không một thị giả, cũng không có tướng sĩ nghị sự. Chỉ thấy Lận Tắc quỳ ngồi bên án, Mông Kiều quỳ sát bên cạnh, hai tay đỡ lấy cánh tay hắn, thoạt nhìn vô cùng thân cận.
Hai người đều cúi đầu nhìn một vật. Một người sắc mặt trắng bệch, mồ hôi rịn trán; một người mặt đầy kinh hãi, giọng nói run rẩy: "Sao lại thế này? Ta đi gọi y quan!"
Mông Kiều đứng dậy quay đầu, liền thấy Tùy Đường và Mông Lãng nơi cửa trướng.
"Điện hạ—" Nàng kinh ngạc cất tiếng.
Lận Tắc đầu óc choáng váng, ngực đau từng cơn. Hắn nghe vậy bèn chống án thư ngẩng đầu lên nhìn.
Thê tử lẽ ra ở nơi ngàn dặm xa xôi cứ thế xuất hiện trong mắt hắn.
Nàng đứng yên bất động nhìn hắn, mãi đến khi một giọt lệ lăn khỏi khóe mắt.
*
Lâm Quần nghe tin thì vội vã đến nơi. Trông thấy Mông Kiều, Mông Lãng vẫn chưa rời đi, liền nói rằng bệnh là do chiến sự gấp gáp, hỏa khí công tâm, nay thổ huyết ra ngoài lại là điều tốt, nếu ứ tắc bên trong, e sẽ tổn hại phế phủ. Lại dặn chỉ cần tĩnh dưỡng vài ngày là ổn. Thế rồi mọi người lần lượt lui ra, chỉ còn Tùy Đường ở lại bên hắn.
Tùy Đường lặng lẽ sắc thuốc, đút thuốc cho hắn, rồi cùng dùng bữa tối, sau đó trở về Cam Viên.
Trong lúc dùng bữa, Lận Tắc từng gắp thức ăn cho nàng; trên xe ngựa cũng từng nắm tay nàng. Nàng không khước từ, nhưng cũng chẳng đáp lại.
Trăng đã lên giữa trời. Lận Tắc dỗ Phái Nhi ngủ xong thì trở về phòng, thấy nàng đã nằm trên sập. Hắn không vội thay y phục, chỉ ngồi nơi mép sập, hai bàn tay khô khốc xoa vào nhau, mấy lần mở miệng mà vẫn không nói được lời nào.
"Trời lạnh, lên đây đi." Cuối cùng vẫn là Tùy Đường cất tiếng.
Lận Tắc như được đại xá, mây mù nơi chân mày tan biến sạch: "Nàng không giận nữa sao?"
"Vì sao ta phải giận?" Tùy Đường nghiêng người, đưa tay cởi đai lưng cho hắn.
"Ban đầu là đang nghị sự. Trận công thành Dương Châu liên tiếp đã thua hai trận. Sau đó ta cảm thấy thân thể khó chịu, càng lúc càng nặng, liền cho các thuộc quan lui ra, muốn nghỉ ngơi một chút. Có lẽ Mông Kiều tinh tế, nhìn ra sắc mặt của ta khác thường, nên đã quay lại..."
Tùy Đường bỗng bật cười, đưa tay ép khóe môi: "Chàng giải thích những điều này làm gì?"
"Nàng... nàng chẳng phải đang giận sao? Ta với Mông Kiều, ta..." Lận Tắc chợt hiểu ra, "Nàng không giận? Làm ta sợ suốt cả đêm."
Nàng chỉ biết bệnh của hắn lại nặng thêm, trong lòng đau xót khôn nguôi. Lời chẳng biết bắt đầu từ đâu, hễ mở miệng là nước mắt muốn rơi, nên đành im lặng. Nhưng lại sợ sự im lặng khiến hắn bất an, tự mình điều chỉnh xong mới lại lên tiếng.
"Giờ thì ta giận rồi." Tùy Đường xoay người, quay lưng lại với hắn.
Lận Tắc lên sập, hai tay đẩy nàng, nàng chẳng buồn để ý.
"Ta cũng đang tức đây!"
"Chàng tức điều gì?" Tùy Đường bị khích, không nhịn được mà hỏi.
Lận Tắc không đáp.
Tùy Đường ngồi dậy: "Ta tức chàng nghĩ ta ghen tuông. Ta nhỏ nhen đến thế sao?"
"Ừ, nàng rộng lượng nhất." Lận Tắc nhắm mắt, giọng nói không mặn không nhạt, "Từ trước đến nay chưa từng ghen."
"Vậy rốt cuộc chàng vì sao mà tức?" Lần này đến lượt Tùy Đường không chịu buông, "Nói đi!"
Lận Tắc mở mắt nhìn nàng, chỉ cảm thấy mình sắp lại thổ huyết lần nữa.
*
Tùy Đường ở lại Quán Lưu Hồ bầu bạn cùng Lận Tắc suốt bốn tháng, mãi đến sang năm mới, qua rằm Nguyên Tiêu mới đưa Phái Nhi trở về Ký Châu.
Trong bốn tháng ấy hắn đã phát bệnh hai lần: một lần đầu tháng Mười, một lần cuối tháng Mười Một, mỗi lần đều hôn mê ba đến năm ngày.
Không cần lật xem y án cũ, Tùy Đường cũng biết trước kia mỗi lần hôn mê chỉ độ một ngày một đêm, nay rõ ràng đã nghiêm trọng hơn, lại còn thêm chứng thổ huyết.
Đến ngày khởi hành, Tùy Đường hỏi Lận Tắc: "Trận chiến này bao giờ mới kết thúc?"
Lận Tắc thật thà đáp: "Trận Dương Châu đã vào giai đoạn công thành cuối cùng. Nếu không có biến cố, tháng Tư có thể kết thúc. Sau đó... là trở về Lạc Dương."
Lạc Dương vẫn còn một trận nữa.
Tùy Đường gật đầu: "Nhất định phải là chàng sao? Không thể cùng ta trở về ư?"
Cuối cùng, nàng không đợi hắn trả lời đã ôm Phái Nhi lên xe ngựa.
Tai nghe mắt thấy, nàng cũng dần hiểu ra, hiểu vì sao dù Lận Tắc không cần thân chinh ra trận vẫn cố chấp trấn giữ tuyến Quán Lưu Hồ, tự mình chỉ huy.
Vì phải đề phòng quân quyền bị rỗng hóa, vì thân phận của nàng đặc thù, vì bọn họ đã có con, cần tính toán cho đường dài.
"Ta đợi chàng. Sớm về nhà."
*
Ngày thứ ba Tùy Đường trở lại Ký Châu, lại nghe tin bảng vàng cầu lương y cho Thái hậu được ban ra. Trên bảng viết: Thái hậu bệnh đã lâm nguy; thân làm con, nguyện lấy mười năm thọ mệnh đổi cho mẫu thân hai tháng dương thọ, cùng mừng bốn mươi hai tuổi.
Tùy Lâm không phải người thường, mà là thiên tử, là con trời.
Thiên tử cắt thọ đế vương để nối mệnh cho mẹ, việc ấy dù có hiệu nghiệm hay không, trong nhất thời cũng giúp y giành được một phen tán tụng.
Ngoài cửa sổ mưa bụi rơi đều, tay Tùy Đường đang lật sách bỗng khựng lại.
Mùng sáu tháng Ba, là sinh nhật của mẫu thân.
Mưa tạnh trời quang, liễu đã ra mầm. Từng bó y thư được chuyển từ y thự tới, hai ngày sau lại lần lượt đưa về.
Ngày ấy chính là mùng sáu tháng Ba. Tùy Đường ngồi một mình bên cửa sổ ở hướng tây nam, trông về Lạc Dương.
Sau đó rất lâu, Tùy Đường không còn đọc y thư nữa, chỉ lặng lẽ tĩnh tọa, nghĩ về Lận Tắc, nghĩ về Thái hậu, nghĩ về ngày sau... Mãi đến một ngày giữa tháng Ba, nàng đem Phái Nhi giao cho Dương thị, nói rằng mình muốn trở về Lạc Dương một chuyến.
Lời vừa thốt ra, Dương thị đã kinh hãi.
Dù quan hệ mẹ chồng nàng dâu chẳng mấy thân thiết, nhưng việc đến Lạc Dương tất sẽ ảnh hưởng đến trạng thái hành quân của con trai bà, nên bà dịu giọng khuyên can.
Song Tùy Đường nói: "Tam lang đã cho phép con về. Chàng đã sắp xếp xong cả rồi, con sẽ không có việc gì."
Dương thị nghe vậy lại thấy cháu trai được để lại bên mình, không theo nàng cùng đi, liền dặn dò vài câu rồi gật đầu.
Chỉ là, Tùy Đường không thể đi đúng hẹn.
Nàng vốn định khởi hành ngày mười chín tháng Ba, nào ngờ ngày mười bảy, trong phủ lại đón tiếp một vị khách không mời mà đến.
Từ Mẫn — Từ cô cô.
Phụ nhân chưa đến tuổi tri thiên mệnh, phong trần mệt mỏi, tóc mai đã điểm bạc, đôi môi khô nứt, tay chân run rẩy. Ban đầu bà ngồi xe ngựa đến, sau chê quá chậm lại đổi sang cưỡi ngựa mà đi.
Chút tài cưỡi ngựa ấy là Thái hậu dạy bà khi còn niên thiếu. Trăm dặm cuối gần Ký Châu, dẫu cực nhọc vẫn không chịu dừng, vì thế mới có bộ dạng chật vật như lúc này.
"Lão nô phụng chỉ Thái hậu, mang đến cho Điện hạ hai vật." Bà nâng bọc hành lý, dâng lên cho nàng.
Một quyển là chân dung của Thái hậu, tặng cho nữ nhi đã không còn nhớ rõ dung nhan mẹ mình, để vơi nỗi tương tư.
Một quyển là di chiếu.
Cả đời Thái hậu chỉ hạ đúng một đạo chiếu chỉ này.
Tùy Đường quỳ xuống tiếp chỉ.
"Sau khi cô băng hà, mọi việc giản lược, không hao tốn tiền bạc trong quan khố, không làm phiền thân thích để tang. Trong đó, trưởng nữ Tùy Đường tại Ký Châu thắp hương trăm ngày, dâng nghìn ngọn nến, để trọn đạo hiếu."
Tùy Đường ngẩng đầu, chưa kịp lên tiếng lệ đã tuôn rơi.
"Thái hậu còn một lời, bảo lão nô truyền lại cho Điện hạ." Từ cô cô đỡ Tùy Đường dậy, nhét di chiếu vào tay nàng, "Nguyên văn của chủ tử là—"
[Con ta không cần nghĩ rằng việc này là vì riêng con. Dù ta đã sinh hai con, nhưng không thể che chở chu toàn cho cả hai, chỉ đành cân nhắc lợi hại, chọn người có thể sống lâu hơn mà giữ lấy.]
"Thái hậu... đã băng hà rồi sao?"
Lan Tâm thấy Tùy Đường hồi lâu không phản ứng, liền bước tới kéo Từ Mẫn hỏi.
Từ Mẫn gật đầu: "Năm ngoái lão nô được Thái hậu cho rời cung với danh nghĩa dưỡng lão, trở về tổ trạch Phù Phong. Vốn đã nhận nhiệm vụ này, đợi tin Thái hậu băng hà truyền ra liền phi ngựa cấp báo cho Điện hạ — ngàn vạn lần đừng quay về Lạc Dương."
"Vốn dĩ vừa ra khỏi cung là nên lập tức lên đường, nhưng e rằng tai mắt của bệ hạ rình rập, lão nô không dám manh động. Mười ba ngày trước, lão nô mới dò được tin tức, may thay Phù Phong cách Ký Châu gần hơn Lạc Dương, nên kịp chạy đến trước cấm quân một bước." Từ Mẫn đối diện với Tùy Đường nói, "Điện hạ tuyệt đối không thể quay về. Bệ hạ quả thực là thỉnh quân nhập cốc."
Tùy Đường không đáp lời, chỉ trải rộng cuộn tranh, lặng lẽ xem kỹ từng nét bút.
Mặt trời lặn, ánh trăng lên, một ngày trôi qua.
Ngày mười tám tháng Ba, nàng vừa thu hồi bức họa lại đã nghe sứ giả báo tang của thiên tử tới trước phủ môn, truyền nàng quỳ xuống tiếp nhận thánh ý.